Dưới ánh nắng tháng Bảy gay gắt trên sa mạc Mojave, cát nóng đến mức chạm vào đế giày cũng thấy rát, hai đoàn lữ hành tình cờ gặp nhau giữa mênhmông cồn cát trập trùng. Một đoàn do Howell và Clancy dẫn đầu, hai người đàn ông New York mặc bộ suit lanh nhăn nhúm vết bẩn, kéo theo năm chiếc xe ngựa chở lồng sắt, bên trong nhốt một con khỉ đột non đang gào thét, mấy con chim công rũ cánh vì thiếu nước. Họ đang thu thập động vật hiếm cho rạp xiếc của mình, mang theo bao nhiêu là bẫy sắt, súng trường mới tinh. Đoàn kia nhỏ hơn nhiều, do ông già Desmond thuần hóa thú dẫn đầu, đi cùng là cô con gái duy nhất, mái tóc đen dài thắt bím lúc nào cũng lấm lem cát bụi, đôi mắt sáng lanh lợi dòm ngó từng gợn cát. Thổ dân đi cùng gọi cô là Đại úy Kate, vì cô từng một mình đuổi được đàn linh cẩu đang rình rập đàn gia súc của bộ tộc, lại còn nói sõi ba thứ tiếng bản địa, đi qua mê cung sa mạc như người dẫn đường lão luyện. Lũ thợ săn da trắng theo đoàn thì gọi cô là thuyền trưởng Kate, bảo cô lái đoàn lữ hành qua những cồn cát nóng chảy như thể đang lèo lái con tàu vượt Đại Tây Dương.
Sau khi trao đổi danh thiếp – Howell đưa tấm ép vàng in rõ Horace Howell, chủ sở hữu Rạp xiếc Hoàng Gia Howell & Clancy, Desmond đưa lại tấm danh thiếp nhàu nát nhoè mực vì mồ hôi, Kate chỉ mỉm cười vuốt nhẹ báng khẩu súng lục bên hông – hai đoàn chia tay mỗi người một ngả. Howell rẽ về phía nam tìm ốc đảo mọc đầy cáo tai to hiếm gặp, Desmond dẫn đoàn về phía bắc hướng dãy Atlas săn sư tử.
Chưa đầy nửa tháng sau, Desmond uống nhầm nước suối đọng vũng, mắc chứng lỵ nhiệt đới. Ông nằm liệt giường ba ngày, mê sảng gọi tên con hổ ông từng thuần hoá ở Calcutta bốn mươi năm trước. Kate túc trực bên cạnh, lấy vải ướt lau trán cho ông, nghe tiếng thở khò khè mỗi đêm. Ông mất lúc rạng đông, Kate lấy đá lấp đầy bụng xác để linh cẩu không đào được, chôn dưới đống đá lớn giữa sa mạc. Những thợ săn thổ dân từng đi theo cha cô nhìn thấy cô bắn hạ con báo hoa đang rình rập đàn lạc đà ngay buổi sáng hôm đó, nên đồng lòng phục tùng thuyền trưởng Kate, để cô tiếp quản công việc nguy hiểm săn thú lớn của cha.
Mọi chuyện trục trặc vào tháng thứ ba sau cái chết của Desmond. Một thợ săn trẻ tên Tariq mắc cùng chứng bệnh với cha cô, lên cơn sốt cao, miệng nói nhảm về thần sa mạc trừng phạt kẻ giết chúa tể rừng xanh. Lũ thợ săn già hơn, vốn mê tín dị đoan, lập tức nhận ra căn bệnh này là điềm gở. Họ túm tụm quanh đống lửa ban đêm, thì thầm rằng cha con Kate đã xúc phạm thần linh vì săn giết quá nhiều sư tử, giờ đến lượt họ bị trừng phạt. Sáng hôm sau, mười hai thợ săn thổ dân thu dọn giáo mác, dắt lừa bỏ đi hết, chỉ còn lại Amin già, người hầu từng phục vụ Desmond từ lúc Kate mới lọt lòng. Ông ta thiếu hai ngón tay vì bị linh cẩu cắn mười năm trước, lắc đầu kiên quyết: Tôi nhìn thấy thuyền trưởng Kate lẫm liệt cưỡi lạc đà từ lúc cô còn chưa đầy tuổi teen. Tôi không bỏ đi đâu cả.
Kate nhìn đống đạo cụ săn bắt còn lại, chỉ còn hai con lạc đà, một cái đã gầy trơ xương, mấy hộp đạn sắp cạn, nắm chà là khô vừa đủ ăn ba ngày. Cô biết mình không thể dẫn hành trình tiếp nếu không có người trợ giúp. Cô ra lệnh dừng lại ngay chỗ đó, một bãi cát trống cách ốc đảo Wadi Rum chừng hai ngày đường. Hai người dựng một túp lều thô sơ bằng cành cây gai, vải bạt cũ từ lều của Desmond, lấp đất quanh chân lều để ngăn gió cát. Kate đưa cho Amin con lạc đà khoẻ nhất, một bầu nước đầy, mảnh gỗ từ thùng đạn viết vội địa chỉ đoàn của Clancy: Tìm Clancy, gã đàn ông New York trầm lặng hay mang súng trường. Nói với hắn ta tôi sẽ trả hắn bằng vàng, bằng da thú, bằng bất cứ thứ gì hắn muốn. Chỉ được quay về với hắn thôi, đừng một mình quay lại. Amin lên đường lúc chiều tà, bóng dáng khuất dần sau cồn cát.
Từ đó Kate ở lại một mình, bước vào những ngày cô lập đầy hiểm nguy. Ban đầu chỉ là bọn chó rừng, chúng rình rập quanh lều mỗi đêm, mắt sáng quắc trong ánh lửa bập bùng, cào cấu vào bạt lều làm cô thức trắng đêm ôm súng. Có đêm cả bầy linh cẩu mười con kéo đến, một con dám xé rách mảnh bạt, Kate dùng giáo đâm thẳng vào mõm nó, cảm nhận hơi thở nóng bỏng phả vào mu bàn tay mình trước khi nó gục xuống. Rồi đến con sư tử đực, mặt sẹo dài từ trán đến mõm, rình cô lúc cô đi nhặt cành cây gai đốt lửa giữa ban ngày. Cô leo vội lên cây keo chết khô, ngồi trên đó sáu tiếng đồng hồ, nhìn con sư tử đi lại dưới gốc cây, gầm gừ hơi thở nóng làm cát xung quanh bốc khói, cho đến khi nó chán nản bỏ đi thì trời đã tối mịt.
Cô hết chà là từ tuần trước, giờ phải bẫy thằn lằn ăn sống, có khi cả rắn độc nếu không cẩn thận. Vết cắt trên chân trái do gai cây đâm tuần trước bị nhiễm trùng, mủ chảy rỉ rá, cô đun sôi nước trên đống lửa nhỏ, dội thẳng vào vết thương, cắn chặt dải da để không la hét lên. Có những đêm sốt cao, cô lẩm bẩm một mình, gọi cha, gọi thuyền trưởng Kate như thể đó là hai người khác nhau. Thuyền trưởng Kate sẽ không bỏ cuộc, cô thì thào giữa cơn mê, nhìn qua cửa lều thấy trăng lưỡi liềm bạc treo lơ lửng trên sa mạc, thuyền trưởng Kate sẽ tìm được đường ra khỏi chỗ này. Cuộc sống của cô lúc này chẳng khác nào một cơn ác mộng dài, chẳng biết bao giờ mới kết thúc, chỉ biết mỗi sáng thức dậy, tiếng gầm của thú hoang vẫn vẳng bên tai, và nỗi cô độc vẫn đè nặng trên từng hạt cát quanh túp lều thô sơ.







